Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Viêm mao mạch dị ứng

(Lâm Ti Phong -Bến Tre)

Ban xuất huyết Henoch-Schoenlein được mô tả từ những năm 1800, đây là một tình trạng viêm mao mạch dị ứng thường xảy ra sau nhiễm khuẩn hô hấp trên. Quá trình viêm mạch có thể xảy ra ở bất kỳ cơ quan nào nên biểu hiện rất đa dạng, ở nhiều cơ quan: da, khớp, đường tiêu hóa, thận, tim, gan, phổi, mắt… trong đó xuất hiện ban xuất huyết ở da và bệnh lý viêm thận gây sự chú ý nhiều nhất cho bệnh nhân. Nếu phát hiện sớm và điều trị thích hợp thì tiên lượng tương đối tốt, tuy nhiên có thể xảy ra suy chức năng thận với tiên lượng xấu. Với biểu hiện lâm sàng ở khắp các cơ quan có xảy ra viêm mao mạch và đều không có gì đặc hiệu chỉ trừ ban xuất huyết ở da nên nhiều khi bệnh bị bỏ sót. Một số trường hợp được chẩn đoán riêng rẽ ở cơ quan biểu hiện.

Các chuyên gia chẩn đoán bệnh dựa trên đề xuất của Hội thấp học Hoa Kỳ năm 1990, gồm hai trong các tiêu chuẩn sau: dưới 20 tuổi, ban xuất huyết, đau bụng và thâm nhiễm bạch cầu đa nhân thành mạch máu trên sinh thiết (da, ruột, thận). Đến năm 2005 thì có tiêu chuẩn mới là ban xuất huyết kết hợp với ít nhất một trong 4 triệu chứng: đau bụng lan tỏa, viêm khớp hoặc đau khớp, tổn thương thận (tiểu máu hoặc tiểu đạm) và có sự lắng đọng IgA ở bất kỳ mẫu sinh thiết nào. Như đã nêu, để chẩn đoán bệnh cần thiết phải làm sinh thiết cơ quan bị tổn thương để xác định mức độ của viêm mao mạch và hướng cho việc điều trị. Ngoài ra bệnh nhân cần phải làm xét nghiệm máu và nước tiểu (quan trọng là xác định tiểu máu và tiểu đạm), siêu âm bụng, chụp X-quang bụng, chụp cộng hưởng từ nhân (MRI) cũng giúp chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý khác.

Bệnh nhân nghi ngờ bệnh ban xuất huyết Henoch-Schoenlein nên đến các chuyên gia để khám và điều trị cũng như theo dõi, các chuyên khoa có thể đến để được tư vấn gồm: da liễu, tiêu hóa, thận, khớp.

BS.CKII. ĐẶNG MINH TRÍ

Kem bôi giúp giảm nếp nhăn và chữa lành vết thương

Da là cơ quan lớn nhất của cơ thể, nhưng thay thế nó tỏ ra phức tạp và cho tới nay công cuộc này vẫn chưa thành công. Hiện nay, các nhà nghiên cứu tuyên bố đã tạo ra “một lớp da thứ hai” làm bằng polymer mạnh, đàn hồi (có thể kéo căng) và dính như thật. “Nó giống như một chiếc quần tất vô hình mà bạn có thể mặc lên da”, GS. Robert Langer, tại Viện Công nghệ Massachusetts, đồng tác giả công trình cho biết.

Lớp da polymer nhân tạo giúp xóa nếp nhăn và sẹo

Phòng thí nghiệm Olivo Labs tạo ra 2 loại kem khác nhau để bôi chồng lên nhau. Nó sẽ tạo ra một lớp polymer vô hình củng cố dưới da và tạo ra lớp màng ở trên giúp da vẫn thở được. Lớp da thứ hai này sẽ giúp bảo vệ da, chống lại bệnh về da như bệnh vảy nến. Ngoài ra, nó còn được ứng dụng cho các phẫu thuật thẩm mỹ cho bệnh nhân bỏng.

LiLy

(theo Discovery)

Những căn bệnh tiến hóa nhanh hơn cả thuốc lẫn hệ miễn dịch con người

Bằng chứng, nhiều loại sinh vật gây bệnh đang ngày càng biến đổi, chống lại các loại thuốc, vắcxin, phương pháp điều trị lẫn hệ miễn dịch của con người như một số căn bệnh phổ biến dưới đây.

1. Ung thư

Ung thư là căn bệnh nan y hiện con người vẫn chưa tìm được thuốc đặc trị, nó cũng được biết đến là căn bệnh có mức độ tiến hóa và biến đổi rất sớm, từ đầu những năm 70 ở thế kỷ trước. Biến đổi giúp ung thư trở nên kháng thuốc, khử mọi loại thuốc khỏi cơ thể, và tự sửa chữa các tế bào đã bị tổn thương do thuốc gây ra. Các nhà nghiên cứu tin rằng, đột biến ung thư được gây ra bởi các tế bào ung thư không bị phá hủy trong quá trình điều trị.

Những căn bệnh tiến hóa nhanh hơn cả thuốc lẫn hệ miễn dịch con người

Một dạng ung thư đột biến từng được nhắc đến nhiều là ung thư tuyến tiền liệt, dạng ung thư này rất cần đến testosterone (hoóc-môn nam giới) để phát triển. Một phương pháp điều trị là để cơ thể đói testosterone, nhưng xem ra lại vô hiệu khi các tế bào ung thư tuyến tiền liệt học được cách sử dụng các phân tử khác thay cho testosterone. Khi tình thế bất ngờ này xảy ra, nó tạo ra một dạng ung thư tuyến tiền liệt trở thành nguy hiểm, có tên, ung thư tuyến tiền liệt kháng cắt tinh hoàn kháng castrate (CRPC) dễ làm cho người bệnh tử vong.

Ung thư phổi và đại trực tràng cũng là nhóm có khả năng biến đổi cao. Tế bào của chúng trở nên kháng thuốc xạ trị và phác đồ hóa trị liệu, khiến khó thể chữa khỏi. Một phương pháp được đề xuất để chữa các loại ung thư đột biến là dùng “liệu pháp cá thể”, đây là phương pháp điều trịmang tính cá nhân. Tuy nhiên, phương pháp này không phải lúc nào cũng tối ưu, nó vẫn còn tồn tại những sai sót mà người ta chưa có điều kiện hiểu hết. Một trong những loại thuốc đầu tiên được tạo ra cho “liệu pháp cá thể” là Herceptin, gắn vào protein HER2 để tiêu diệt các tế bào ung thư vú. Tuy nhiên, căn bệnh ung thư đã đột biến và bắt đầu phá hủy các phần khác của protein HER2 mà Herceptin gắn vào. Hầu hết thời gian dùng thuốc, cơ thể hưởng ứng bằng cách tạo ra các tế bào HER3, điều này làm phức tạp thêm vấn đề vì Herceptin không thể gắn được vào HER3.

2. Bệnh lao

Lao là căn bệnh đang trải qua một đột biến nghiêm trọng, hai dạng bệnh lao mới đã được y học xác định là bệnh lao kháng đa thuốc (MDR-TB) và lao kháng thuốc lan rộng (XDR-TB). MDR-TB kháng isoniazid và rifampicin, hai loại thuốc mạnh nhất được sử dụng trong điều trị bệnh lao. Trong khi đó, XDR-TB, một phiên bản mạnh hơn của MDR-TB, kháng isoniazid, rifampicin, và một số loại thuốc khác.

Những căn bệnh tiến hóa nhanh hơn cả thuốc lẫn hệ miễn dịch con người

Khoảng 580.000 trường hợp MDR-TB được báo cáo vào năm 2015, trong số này, có 55.100 (9,5 %) là XDR-TB. XDR-TB đã được báo cáo xuất hiện ở 117 quốc gia, có nghĩa, nó đang dần dần trở thành vấn đề toàn cầu. Người ta cho rằng, sở dĩ bệnh lao trở nên kháng thuốc là do người bệnh không bảo quản thuốc hoặc dùng thuốc không đúng cách. Bệnh lao được điều trị bằng phác đồ 6 tháng không được gián đoạn. Bất kỳ hình thức gián đoạn nào đều có thể dẫn đến tình trạng tăng bệnh và làm cho bệnh lao kháng thuốc.

3. Bệnh giang mai

Giang mai (Syphilis) còn được gọi là “người bắt chước vĩ đại” vì các triệu chứng của nó thường giống với các bệnh khác. Bệnh lây lan qua tiếp xúc tình dục, cũng có thể truyền từ mẹ sang con trong giai đoạn thai kỳ. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện thấy, Nichols và Street Strain 14 (SS14), hai dòng giang mai chính hiện đang biến đổi, kháng với kháng sinh thông thường như penicillin và macrolide thường được sử dụng để điều trị căn bệnh nói trên.

Những căn bệnh tiến hóa nhanh hơn cả thuốc lẫn hệ miễn dịch con người

Đột biến này phổ biến hơn ở dòng SS14. Trong một phân tích, khoảng 90% mẫu SS14 kháng thuốc so với 25% so với dòng bệnh Nichols. Cuộc kháng thuốc mới này cho phép bệnh giang mai nhanh chóng hồi sinh. Theo báo cáo, từ năm 2013, số ca mắc bệnh giang mai trên quy mô toàn cầu đã tăng tới 15% nhưng hiện vẫn đang trong giới hạn kiểm soát của hầu hết các loại kháng sinh hiện có nhưng nguy cơ kháng thuốc có thể hiện hữu nhanh hơn và mạnh hơn.

4. Bệnh dịch tả

Dịch tả (Cholera) là căn bệnh gây nên bởi tiêu thụ thực phẩm hoặc nước bị nhiễm khuẩn Vibrio cholerae. Trong hầu hết các trường hợp, bệnh thường phát sinh tiêu chảy nhẹ, thậm chí người trong cuộc còn không biết mình mắc bệnh. Nếu trầm trọng, có thể gây mất nước, nôn mửa, và tiêu chảy nặng và nguy cơ tử vong có thể diễn ra trong vòng vài giờ.

Những căn bệnh tiến hóa nhanh hơn cả thuốc lẫn hệ miễn dịch con người

Haiti là quốc gia bị thiệt hại nặng nề do một cơn dịch tả khủng khiếp diễn ra 10 tháng sau trận động đất thảm khốc hồi tháng giêng 2010. Dịch cướp đi 9.200 người, nhưng thực tế con số này có thể cao hơn vì hầu hết các ca tử vong do bệnh không được báo cáo đầy đủ. Ở một số vùng, chỉ có 10% số ca tử vong được báo cáo. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), sự bùng phát dịch tả ở Haiti là do một biến thể có tên “đột biến El Tor”. Nó nguy hiểm hơn các chủng dịch tả thông thường và được so sánh có mức độ nguy hiểm không khác gì trận dịch diễn ra những năm 1800. Đột biến El Tor đã trải qua giai đoạn biến đổi, cho phép nó bỏ qua hệ thống cảnh báo sớm của cơ thể và lần đầu tiên được y học phát hiện thấy vào năm 2000 ở Nepal.

5. Ebola

Hầu hết mọi người từng được nghe nói về Ebola xuất hiện ở vùng Tây Phi từ ngày 23/3/2014, đến ngày 13/1/2016. Đây là giai đoạn “càn quét” khủng khiếp nhất của Ebola. Nó cướp đi ít nhất 11.315 sinh mạng người, cao gấp 5 lần số thương vong trong tất cả các đợt dịch mà Ebola đã xảy ra kể từ lần đầu tiên năm 1976, mặc dù con số thực còn cao hơn nhiều. Vụ bùng phát dịch Ebola 2014 bắt đầu vào tháng 12 năm 2013 khi một đứa trẻ hai tuổi ở Guinea bị thiệt mạng. Đến tháng 3 năm 2014, Ebola đã có mặt ở Liberia. Từ đó, lan tiếp sang Sierra Leone và một số nước láng giềng khác. Trong giai đoạn này, nó đã lây nhiễm trên 28.000 người, gấp 100 lần so với số người bị nhiễm bệnh Ebola trong các đợt dịch trước đây.

Những căn bệnh tiến hóa nhanh hơn cả thuốc lẫn hệ miễn dịch con người

Hai nhóm chuyên gia về virút học khác nhau đã bắt tay vào nghiên cứu dịch này và phát hiện thấy, thiệt hại gây ra do Ebola trong giai đoạn nói trên là do một dòng đột biến mới từ virút Ebola nguyên thủy. Đột biến này được gọi là A82V, phát hiện thấy ở hơn 90% số ca nhiễm bệnh. Theo các nhà nghiên, đột biến A82V đã bị chặn lại vì nó lây từ vật chủ phi con người, như dơi ăn trái cây sang cho con người.

6. HIV

Có hai loại HIV, là HIV-1 và HIV-2. HIV-1 phổ biến nhất và được phân loại thành 4 phân nhóm M, N, O và P. Nhóm M là loại phổ biến nhất của tất cả các chủng HIV và được phân thành các phân nhóm nhỏ nữa là A, B, C, D, F, G, H, J, và K. Tất cả các phân nhóm nhỏ này đều khác biệt về mặt di truyền và sẽ dễ dàng hợp nhất để hình thành các giống lai mới, gọi là các dạng tái tổ hợp tuần hoàn (CRF). Đến nay y học đã xác định được 89% các dạng HIV tái tổ hợp tuần hoàn CRF. Điều này có nghĩa, những người nhiễm HIV vẫn có nguy cơ tái nhiễm, ở mọi dạng hoặc phân nhóm phụ. Khi bị nhiễm trùng, hai chủng HIV kết hợp và tạo ra một chủng mới có “sức đề kháng cao hơn”, gọi là nhiễm trùng kép, mặc dù đồng nhiễm trùng hay siêu nhiễm trùng cũng có thể xảy ra, tùy thuộc vào công cụ lan truyền, và tất các kiểu nhiễm trùng này đều rất nguy hiểm.

Những căn bệnh tiến hóa nhanh hơn cả thuốc lẫn hệ miễn dịch con người

Nếu không tồi tệ hơn, các CRF lai này vẫn có khả năng hợp nhất với các dòng HIV khác để tạo ra những giống lai mới và nguy hiểm hơn. Một trong những CRF được xác định hiện đã có mặt tại Cuba, được đặt tên là CRF19. Nó được hình thành bởi sự kết hợp của các phân nhóm A, D và G của nhóm HIV-1. CRF19 có thể chuyển sang giai đoạn AIDS trong vòng ba năm so với 10 - 15 năm như các dòng HIV thông thường.

DS. Trang Nhung

(Theo Listverse.com- 1/2018)

Thời tiết lạnh khắc nghiệt

Khi trời lạnh, mạch máu giảm tính đàn hồi, lòng mạch bị thu hẹp dẫn đến lưu lượng máu đến não kém. Mặt khác khi mạch máu co lại dễ làm tăng huyết áp, tăng áp lực trong lòng mạch. Với những người đã có biến chứng xơ vữa động mạch hay huyết khối, mạch máu dễ bị tắc, thậm chí có thể vỡ mạch máu dẫn đến xuất huyết não, đột quỵ với nguy cơ tử vong cao hoặc các biến chứng vô cùng nặng nề.

Thời tiết lạnh không chỉ ảnh hưởng đến người cao tuổi mà còn có thể gây đột quỵ với các bệnh nhân có tiền sử cao huyết áp, rối loạn chuyển hóa lipid, béo phì, lạm dụng bia rượu, thuốc lá. Do vậy, cần phải quan tâm đặc biệt, giữ gìn sức khỏe những lúc tiết trời giá lạnh bất thường như hiện nay.

Để phòng ngừa cơn đột quỵ, cần chú ý giữ ấm cơ thể, ngủ trong phòng kín gió; tránh để nhiễm lạnh đột ngột khi thức dậy từ phòng ấm, kín bước ra ngoài; lưu ý thời điểm dễ xảy ra các cơn đột quỵ là lúc nửa đêm, rạng sáng. Bên cạnh đó, người mắc bệnh mạn tính cần kiểm soát các yếu tố nguy cơ như huyết áp. mỡ máu, đường huyết, stress, giữ cân nặng hợp lý, tập thể dục thể thao thường xuyên. Đặc biệt tránh lạm dụng rượu bia vì chất cồn lưu lại trong máu lâu khi thời tiết lạnh, do khả năng bài tiết qua đường mồ hôi giảm khiến huyết áp tăng cao, dễ dẫn đến đột quỵ

Các dầu hiệu , triệu chứng cảnh báo của đột quỵ:  *Đột ngột yếu hoặc tê bì mặt, tay, chân - đặc biệt xảy ra ở một bên của cơ thể *Đột ngột rối loạn ý thức, bất thường về lời nói, không hiểu lời nói, nói lắp... *Chóng mặt hoặc mất thăng bằng hoặc phối hợp động tác, đau đầu dữ dội...xảy ra đột ngột mà không rõ căn nguyên.

Khi phát hiện người có dấu hiệu đột quỵ, tuyệt đối không sơ cấp cứu bằng cách cạo gió, xức dầu, chích máu mười đầu ngón tay, chân hoặc di chuyển quá mạnh...cần đặt bệnh nhân nằm ngửa nơi thoáng mát và ngay lập tức gọi cấp cứu đưa đến cơ sở y tế gần nhất, không làm lỡ mất" thời gian vàng " để cứu bệnh nhân , tốt nhất là 3-4 giờ sau cơn đột quỵ.

Hãy chăm sóc người nhà và bản thân thật tốt...để không trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.

DS Bùi Ngọc Lan Hương

Lợi, hại của vi khuẩn

Trong bài viết này chỉ đề cập một số nét cơ bản của vi khuẩn, về lợi và hại của chúng.

Loài người phát hiện ra vi khuẩn khi nào?

Vi khuẩn đầu tiên được quan sát bởi Antony van Leeuwenhoek năm 1683 bằng kính hiển vi một tròng do ông tự thiết kế. Tên “vi khuẩn” được đề nghị sau đó khá lâu bởi Christian Gottfried Ehrenberg vào năm 1828. Louis Pasteur (1822-1895) và Robert Koch (1843-1910) miêu tả vai trò của vi khuẩn là các thể gây ra bệnh hay tác nhân gây bệnh đối với loài người.

Nhu cầu dinh dưỡng của vi khuẩn

Mỗi một vi khuẩn là một tế bào, kích thước rất nhỏ bé cho nên mắt thường không thể quan sát được, trong khi đó, con người được cấu tạo bởi vô số tế bào, tuy vậy, dinh dưỡng của một vi khuẩn lại hoàn toàn khác xa con người. Đối với con người, chỉ cần một lượng thức ăn bằng 1% trọng lượng của cơ thể, trong khí đó vi khuẩn cần một lượng thức ăn bằng trọng lượng cơ thể nó. Lý do là vi khuẩn sinh sản với tốc độ rất nhanh, trong một vài giờ đồng hồ, nó đã cho ra một thế hệ mới (trừ vi khuẩn lao, sau 24 giờ mới có một thế hệ mới ra đời), vì vậy, vi khuẩn cần một lượng thức ăn rất lớn để tạo ra năng lượng trong sinh sản, phát triển.

Lợi, hại của vi khuẩnBifidobacterium là lợi khuẩn trong đường ruột của con người.

Lợi và hại của vi khuẩn đối với con người

Từ khi phát hiện ra vi khuẩn, người ta thấy chúng vô cùng nguy hiểm đối với con người, đó là gây bệnh và lan truyền bệnh. Trên cơ thể người không có bộ phận nào mà vi khuẩn từ chối tấn công. Ví dụ, đường hô hấp có vô số vi khuẩn gây bệnh như tụ cầu, liên cầu, phế cầu, trực khuẩn mủ xanh, ho gà và đặc biệt vi khuẩn bạch hầu có thể gây bệnh cấp tính cho trẻ, nếu không cấp cứu kịp thời có thể tử vong bất cứ lúc nào (suy tim cấp, bạch hầu thanh quản). Ở đường tiêu hóa với một đội quân vi khuẩn hùng hậu gây bệnh và gây thành dịch như E.coili, vi khuẩn lỵ (Shigella), vi khuẩn thương hàn (Salmonella), vi khuẩn tả... Hoặc ở đường tiết niệu - sinh dục có vô vàn các loại vi khuẩn gây bệnh và làm lây lan cho người khác như E.coli, Proteus, Mycoplasma, Chlamydia, vi khuẩn lậu... đó là chưa nêu tên các vi khuẩn gây bệnh ở da, mô mềm như trực khuẩn mủ xanh, giang mai...

Tuy vậỵ, vi khuẩn cũng có vai trò khá quan trọng trong cuộc sống thường ngày của con người. Các nhà khoa học thuộc Viện Công nghệ Cork, Ireland cho biết, trước kia chúng ta thường coi nhẹ sự tồn tại của vi khuẩn trong cơ thể, ngày nay, qua kết quả phân tích ADN đã chỉ ra sự đa dạng của quần thể vi sinh vật cộng sinh trên cơ thể con người như đường hô hấp trên, đường ruột, âm đạo phụ nữ (âm đạo có trực khuẩn Doderlin rất có lợi) và tác dụng hữu ích của chúng. Trong thực tế, ở đường tiêu hóa của con người đã có một lượng lớn vi khuẩn cộng sinh, không gây bệnh. Con người cung cấp thức ăn cho vi khuẩn, ngược lại vi khuẩn sẽ giúp chúng ta tiêu hóa thức ăn, thúc đẩy sản sinh vitamin và nâng cao khả năng miễn dịch cơ thể, ví dụ, sữa chua hoặc men tiêu hóa vi sinh, men bia để sản xuất bia...

Lợi, hại của vi khuẩnTiêm vắc- xin là một biện pháp chống lại sự tấn công của vi khuẩn.

Vi khuẩn tấn công con người bằng vũ khí gì?

Những loài vi khuẩn tấn công con người (gây bệnh và lây lan khắp nơi gây thành dịch) luôn có vũ khí của chúng. Đó là nội và ngoại độc tố là vũ khí lợi hại nhất của vi khuẩn đế tấn công con người. Một đặc tính của vi khuẩn làm vô cùng bất lợi cho con người trong suốt thời gian qua đó là gene kháng thuốc kháng sinh. Để tiêu diệt chúng, con người đã nghiên cứu thành công và sản xuất vô số các loại kháng sinh gồm các nhóm kháng sinh khác nhau. Nhóm có tác dụng ưu thế trên các loại vi khuẩn Gram âm, loại nhóm khác có tác dụng đối với vi khuẩn Gram dương và có nhóm kháng sinh có tác dụng trên cả hai loại vi khuẩn. Nhưng vi khuẩn không “đứng yên chịu đòn” như vậy, chúng tìm mọi cách chống lại thuốc kháng sinh (kháng kháng sinh), vũ khí chính của chúng là dùng gene kháng thuốc. Gene kháng thuốc này còn lan truyền cho vi khuẩn trong cùng loại hoặc khác loại nhờ hệ thống Plasmid của chúng. Vì vậy, con người luôn trong tình trạng bị động chống lại vi khuẩn gây bệnh. Để giành giật sự sống với vi khuẩn, con người đã, đang nghiên cứu và sản xuất các loại vắc-xin nhằm chống lại sự xâm nhập và gây bệnh của vi khuẩn. Vì vậy, cho đến nay cả thế giới không còn bệnh đậu mùa, bệnh bại liệt, 2/3 các nước đang phát triển đã loại trừ uốn ván rốn sơ sinh và làm giảm tỷ tử vong một cách đáng kể các bệnh như ho gà, bạch hầu, viêm não do H.influenzae... đang tập trung nghiên cứu một cách tích cực vắc-xin phòng sốt xuất huyết, HIV/AIDS, tiến tới thanh toán bệnh viêm gan b virut...

TTƯT. PGS.TS. Bùi Khắc Hậu

Mất ngủ, có nên dùng thuốc?

Tôi năm nay 45 tuổi, tôi rất khó ngủ và ngủ hay chập chờn chứ không say. Gần đây cứ khoảng 22h đi ngủ thì chỉ 2-3h sáng đã thức giấc. Xin hỏi bác sĩ tôi bị bệnh gì? Ở tuổi tôi ngủ mỗi ngày bao nhiêu là đủ? Có nên dùng thuốc ngủ không?

Nguyễn Thanh Nhạn (nhantg12@gmail.com)

Có rất nhiều loại bệnh làm ảnh hưởng đến giấc ngủ, có khi là bệnh thực thể nhưng cũng có khi do công việc quá căng thẳng, stress, suy nhược thần kinh... nhưng hay gặp nhất là các bệnh về xương khớp, tim mạch và hô hấp. Chẳng hạn đau nhức xương khớp (viêm đa khớp dạng thấp, thoái hóa khớp, bệnh gút...); do bệnh về tim mạch (bệnh tăng huyết áp, thiếu máu cơ tim...) làm khó chịu, thổn thức, lo lắng làm ảnh hưởng rất nhiều đến giấc ngủ; bệnh về đường hô hấp (bệnh giãn phế quản, hen phế quản...) thường gây ho nhiều về đêm nên gây mất ngủ. Ngoài ra, các bệnh về tiêu hóa, tiết niệu cũng gây mất ngủ. Tùy nguyên nhân mà có các cách khắc phục... Trong thư chị không nói rõ ngoài mất ngủ có kèm theo biểu hiện gì khác như ăn uống thế nào, biểu hiện của kinh nguyệt có đều không, vì phụ nữ tuổi từ 45 dễ có những biểu hiện rối loạn tiền kinh nguyệt cũng gây hồi hộp, bốc hỏa, mất ngủ...

Tuy nhiên, trước khi nghĩ đến việc dùng thuốc, hãy sắp xếp lại thời gian biểu hợp lý, không nên làm việc quá căng thẳng trước khi ngủ; hằng ngày dành thời gian để tập luyện thể dục như đi bộ, tập yoga, thiền cũng giúp ích rất nhiều cho người mất ngủ. Ngoài ra có thể dùng một số thảo dược giúp ngủ ngon như nước tâm sen, chè sen - long nhãn, canh lá dâu non hay hoa thiên lý lá vông... Tránh uống trà, cà phê trước khi đi ngủ. Phòng ngủ cần mát mẻ, ánh sáng phù hợp. Nếu các giải pháp trên vẫn không cải thiện thì chị cần được khám và điều trị bởi bác sĩ chuyên khoa tâm thần kinh.

BS.Trần Kim Anh

Thiết bị cảnh báo nguy cơ trượt ngã cho người cao tuổi

Thiết bị cảnh báo nguy cơ trượt ngã cho người cao tuổi

Người cao tuổi nếu sơ ý bị trượt ngã sẽ rất khó bình phục, trong trường hợp nghiêm trọng có thể để lại những di chứng nặng nề, thậm chí dẫn đến tử vong. Để hạn chế tình trạng này, các nhà khoa học đã phát minh ra thiết bị thông minh có tên FallShip, bao gồm một ứng dụng cài trên Android, một ứng dụng tùy chỉnh giúp phát đi tín hiệu liên lạc sớm với dịch vụ khẩn cấp hoặc các cơ sở y tế trong trường hợp người cao tuổi bị té ngã và một dây đai thắt lưng. Sử dụng gia tốc kế, con quay hồi chuyển của thiết bị, ứng dụng có thể cung cấp các thông tin như sự cân bằng của cơ thể, sức mạnh của cơ bắp... từ đó tính được tỷ lệ % cảnh báo nguy cơ ngã của người bệnh tại thời điểm sử dụng FallShip. Đồng thời các bác sĩ cũng nhập thông tin về độ tuổi, giới tính, hồ sơ bệnh án của người bệnh để theo dõi lâu dài và hữu ích cho việc điều trị.

Tuấn Minh

((Theo NA, 1/2018))

Cách dùng than hoạt tính khi ngộ độc thực phẩm

Than hoạt tính thường được sử dụng trong dân gian để điều trị một số bệnh như ăn uống khó tiêu, đầy hơi, chướng bụng… Tuy được coi là thuốc ...